NGUYỄN THỊ HỒNG DUNG | CÔNG TY TNHH KHẢI HỒNGHoà Lân 2 – Thuận Giao – Thuận An – Bình Dương - HOTLINE : 0903071939 - 0917 700 785  |
|

GÓC TƯ VẤN

PHÂN NHÓM GỖ VIỆT NAM


 PHÂN NHÓM GỖ VIỆT NAM

Đỗ Văn Bản, Lê Thu Hiền, Hoàng Thanh Sơn 
Phòng Nghiên cứu Tài nguyên Thực vật rừng
Viện Khoa học Lâm nhghiệp việt nam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

"Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng  thống nhất trong cả nước"  do Bộ Lâm nghiệp ban hành kèm 
theo quyết định số 1298-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977  đã có những đóng góp nhất định cho  ngành Lâm 
nghiệp nói riêng và cho nhiều ngành kinh tế khác có liên quan đến việc sử dụng, kinh doanh gỗnói chung. Từ 
lâu, nó đã trởthành một tài liệu quan trọng trong sản xuất lâm nghỉệp, có mặttrong  rất nhiều văn bản pháp quy 
và là một trong các tài liệuthông dụng được sử dụng rộng rãi trong cả nước. 
Hiện nay tài nguyên rừng cũng như hoàn cảnh kinh tế nước ta đã có rất nhiều thay đổi, Bảng 8 nhómgỗ áp 
dụng đến nay đã trên 30 năm, không còn phù hợp, cần phải điều chỉnh lại. Hơn nữa, bản thân nó cũng còn có 
tồn tại, vì thế, trongsản xuất, kinh doanh gỗthường gặp nhiều lúng túng;  công tác  nghiên cứu  điều chỉnh, bổ 
sung loại gỗcho Bảng 8 nhóm gỗ cũng gặp khó khăn. Nghiên cứu để giải quyếtnhữngtồn tạicủa Bảng 8 nhóm 
gỗlà một nhiệm vụ cấp bách, thiết thực, do vậy  năm 2007 Bộ NN & PTNT đã giao nhiệm vụ khoa học công 
nghệ“Nghiên cứu cơ sở khoa học phân loại gỗ” cho Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,Phòng Nghiên cứu 
Tài nguyên Thực vật rừng trực tiếpthực hiện.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-  Kếthừa tài liệu.
-  Lấy ý kiến tại các cơquan quản lý nhà nước, cơ sở sản xuất, kinh doanh gỗ và sử dụng. 
-  Sử dụng phương pháp chuyên gia, hội thảo khoa học.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1.Phân nhómgỗ ở nước ngoài
-  Phân nhóm theo tính chất cơ vật lý của gỗ
Một số tính chất cơ vật lý cơ bản của gỗ được các nước, các tổ chức quốc tế sử dụng để làm tiêu chuẩn 
phân nhóm gỗ cho rất nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Trước hết, khối lượng thể tích là một đặc điểm được 
sử dụng rộng rãi để làm căn cứ phân nhóm gỗ. Hội nghị quốc tế về gỗnhiệt đớitại Geneve năm 1949đã thống 
nhất: lấy khối lượng thể tích của ở độ ẩm 12% để làm tiêu chuẩnphân thành 5 nhóm gỗ và riêng biệt cho gỗ cây 
lá  kim và gỗ cây lá rộng (Nguyễn Đình Hưng, 1977). Trong khu v ực, hiện nay Malaysia, Inđônêxia sử dụng khối 
lượng thể tích  ở độ ẩm gỗ 15%  để phân gỗ thành 4 nhóm, trong đó có 3 nhóm cho gỗ cây lá rộng và 1 nhóm 
cho gỗ cây lá kim (Phạm Đình Sơn, 1991).  Philippin phân gỗ  gần tương tự như thông lệ quốc tế thành 5 nhóm
khối lượng thể tích (L.J. Harmann, 1988).
Anh  và  Đức  sử  dụng  độ  bền  nén  dọc  phân  gỗ  thành  5  nhóm,  nhưng  Pháp  chỉ  phân  làm  3  nhóm  (L.J. 
Harzmann, 1988). Đối với gỗ nhiệt đới, Christian Scheiber (1965)  lấy độ bềnnén dọc của gỗ ở độ ẩm 12...15% 
để  phân thành 5 nhóm.  Malaysialấy độ bền nén dọc của gỗ để phân gỗ thành 4 "Nhóm cường độ" (Strength 
groups) (Phạm Đình Sơn, 1991)và hiện nay vẫn còn sử dụng phân nhóm này.
Căn cứ vào độ bền uốn tĩnh, Anh và Đức phân gỗ thành 4 nhóm, nhưng Pháp và FAO chỉ 3 nhóm (L.J. 
Harzmann, 1988). Christian Scheiber (1965) thì căn cứ vào độ bền uốn tĩnh của gỗ ở độ ẩm 12...15% để phân 
gỗ nhiệt đới thành 5 nhóm.
Ngoài ra, mô đun đàn hồi khi uốn tĩnh, công riêng khi uốn va đập,... cũng được lấy làm tiêu chuẩn áp dụng 
cho một mục đích sử dụng nhất định.
Hình thức kết hợp nhiều tính chất cơ vật lýlàm tiêu chuẩn phân nhómchủ yếu sử dụng cho kiến trúc, xây 
dựng. Tùy thuộc vào quốc gia, vùng lãnh thổ mà số lượng tính chất lấy làmtiêu chuẩn, chỉ tiêu, số lượng nhóm 
phân chia cũng khác nhau.  Trong “Handbook of hardwood” (L.J. Harzmann, 1988) cường độ uốn tĩnh, môđun 
đàn hồi khi uốn tĩnh, cường độ nén dọc và cường độ uốn va đập  được sử dụng  để phân gỗ thành 5 nhóm. 
Sudansử dụng cường độ uốn tĩnh, môđun đàn hồi khi uốn tĩnh, cường độ nén dọc và cường độ cắt dọc để 
phân gỗ thành 4 nhóm. Úc sử dụng 3 cường độ cơbản:  uốn tĩnh, môđun đàn hồikhi uốntĩnh và cường độnén 
dọc để phân gỗ tươi thành 7 hạng (S1 đến S7) vàgỗkhô thành 8 hạng (SD1-SD8).FAO đã sử dụng khối lượng 
thể tích, cường độ uốn tĩnh và cường độ nén dọc phân gỗ thành 5 nhóm, áp dụng cho gỗ Inđônêxia.
- Phân nhómgỗ theo độ bền tự nhiên
Độ bền tự nhiên được thế giới quan tâm từ lâuvà nhiều nước đã tiến hành nghiên cứu, sử dụng nó làm căn 
cứ để phân nhóm gỗ. Malaysia  phân gỗ thành 4nhóm:    nhóm rất bền (10 năm), khá bền (5-10năm),  bền (2-5
năm)  và  không  bền  (dưới  2  năm)  (Phạm  Đình  Sơn,  1991,  YAP  Fui  It,  2004).  Theo  tiêu  chuẩn  AS/NZS 
2878:2000, New Zealand chia gỗ thành 5cấp độ bền tự nhiên với chỉ tiêu cụ thể về thời gian phân chia theo 5 
điều kiện môi trường sử dụnggỗ khác nhau. Tiêu chuẩn này đã được FAO áp dụng chogỗ Inđônêxia .
Như vậy, một số tính chất cơ vật lýcơ bản vàđộ bền tự nhiên của gỗ là những cơ sở khoahọc được nhiều 
nước, nhiều tổ chức  sử dụng để phân  nhómgỗ. Hình thức kết hợp nhiều tính chất  gỗ  làm tiêu chuẩn  phân 
nhóm thường là những tiêu chuẩn áp dụng cho lĩnh vực xây dựng, kiến trúc, tương tự  như tiêu chuẩn  "TCVN 
1072-71Gỗ -Phân nhóm theo tính chất cơ lý" ở nước ta. Trong  tất cả các hình thức phân nhóm gỗ của nước 
ngoài được tham khảo, không có một hình thức nào giống như Bảng 8 nhóm gỗ hiện hành ở Việt Nam. 
3.2. Các văn bản phân nhómgỗ ở Việt Nam
Trước đây, ông cha ta đã hình thành phân hạng gỗ căn cứ vào độ bền tự nhiên của gỗlà chủ yếu, kết hợp 
với một số đặc tính tự nhiên khác của gỗ theo kinh nghiệm sử dụng như gỗ nặng hay nhẹ, cứng hay mềm, màu 
sắc của gỗ, theo đó có  4hạng: Hạng gỗ quý,hạng thiết mộc, hạng hồng sắc và hạng tạp mộc (Lê Văn Chung, 
1963).Căn cứ để phân hạng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sử dụng.
Ngày 21 tháng 10 năm 1921, chính quyền thực dân Pháp ra Nghị định số 2657 quy định việc phân hạng gỗ 
ở Việt Nam, chủ yếu cho gỗ tròn và gỗ xẻ hoặc đẽo vuông. Tiêu chuẩn đặt ra chủ yếu dựa vào kinh nghiệmvà 
thị hiếu của người tiêu dùng, không dựa trên cơ sở khoa học. Theo đó, gỗđược chia thành 5 hạng nhỏ:  Hạng 
gỗ quý: gồm 11 loại, hạng nhất: gồm 17 loại, hạng nhì: 28 loại, hạng ba: 37 loạivà hạng tư: tất cả những loại gỗ 
còn lại chưa được xếp vào các hạng trên. 
Ngày 1 tháng 3 năm 1957,Bộ Nông Lâm –Tài chính ra Nghị định số 4 ND/LB quy định về phân hạng gỗđầu 
tiên của Nhà nước  Việt Nam  Dân chủ  Cộng hòanhằm  đáp  ứng nhiệm vụ khôi phục kinh tế sau chiến tranh 
chống Pháp ở miền Bắc nước ta. Vấn đề tiết kiệm gỗ, tận dụng mọi khả năng tài nguyên gỗ để đáp ứng nhu cầu 
của kinh tế xã hội có tầm quan trọng hết sức to lớn. Tiêu chuẩn phân hạng đã căn cứ vào mục đích sử dụng, trữ 
lượng rừng, khả năng cung cấp của ngành khai thác cùng với các yếu tố: cấu tạo gỗ, tính chất cơ vật lý, độ bền 
tự nhiênvà khả năng gia công của gỗ. Theo đó gỗ nước ta được phân chia thành 8 hạng. 
Ngày 26 tháng 4 năm 1960 Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 10-CPquy định chế độ tiết kiệm gỗ. Căn cứ 
theo Nghị định 10-CP,  ngày 9 tháng 8 năm 1960  Tổng cục Lâm nghiệp đã  ra  Quyết định số 42-QĐban hành 
"Bảng phân loại 8 nhóm gỗ" gồm một danh lục với 210loại gỗ.Căn cứ để phân nhóm gỗ là phân chia gỗ thành 
nhóm  theo  cường  độ và  khả  năng  sử  dụng,  trong  đó khối  lượng  thể  tích  đóng  một  vai  trò  quan  trọng (L.J. 
Harzmann, 1988).Tuy vậy, trong thực tế thì khả năng sử dụng và độ bền tự nhiên lại có ảnh hưởng nhất định
đến việc xử lý xếp nhómnên nhiều loại gỗ trong các nhóm không tuân theo tiêu chuẩn về cường độ của nhóm.
Ngày26-11-1977, Bộ Lâm nghiệp ra Quyết định số 2198-CNR ban hành “Bảng phân loại tạm thời các loại 
gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước”trên cơ sở"...xếp các loại gỗ sử dụng ở các tỉnh phíaNam và Bảng phân 
loại 8 nhóm gỗ ban hành kèm theo Quyết định số 42-QĐ ngày 9/8/1960 của Tổng cục Lâm nghiệpđể tạm thời 
thống nhất việc phân loại gỗ sử dụng trong cả nước.
Bảng 8 nhómban đầu gồm 354 loài câygỗ. Năm 1988, Bộ Lâm nghiệp ra Quyết định số 334/CNR ngày 10-5-1988  về việc  điều  chỉnh việc xếp  hạng  gỗ  cho  4 loại  gỗ  và  năm  1997,  Bộ  NN  &  PTNT có  Quyết  định  số 
3341/NN-PTLN/QĐ ngày 22 tháng 12 năm 1997 tạm thời xếp bổ sung thêm 8 loại gỗ vào bảng phân 8 nhóm gỗ 
hiện hành, nâng tổng số loại gỗ lên 362.
Do Bảng 8 nhóm có một số tồn tại nên đến nay đã có một số nghiên cứuđề xuất sửa đổi, đó là  những  công 
trình nghiên cứu của PGS TSNguyễn Đình Hưng  –cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt 
Nam và các cộng sự, đã được công bố: 
1)  "Phân loại gỗ rừng Việt Nam" đã  đượccông bố trên Tạp chí Lâm nghiệp số ra tháng  11 năm 
1977.  
2)  "Phân loại gỗ  Việt Nam"  là sản phẩm đề tài cấp  Nhà  nước mã số KN03-12. Nội dung của dự 
thảo đã  được công bố tại tuyển tập "Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp 1991-1995" 
của Bộ NN & PTNT xuất bản năm 1996 (trang 111-115).
Nhìn lại các văn bản và dự thảophân nhóm gỗ ở Việt Nam từ trước đến nay chúng ta thấy:
-  So với các hệ thống phân nhóm gỗ của nước ta trước đây thì Bảng 8 nhóm gỗlàtiến bộ nhất. 
Căn cứphân nhóm gỗ trong  Bảng 8  nhóm  gỗ  hiện hànhlà  sự kết hợp của nhiều yếu tố:  Tính chất tự 
nhiên (tính chất cơ vật lý, độ bền tự nhiên), khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế.Tồn 
tại của Bảng 8 nhóm gỗ là: i) Cơ sở khoa học để phân chia thành 8 nhóm chưa được rõ ràng, đặc biệt 
là ranh giới phân biệt giữa các nhóm Vđến VIII; ii) Tên nhiều loại gỗ chưa chính xác, còn nhầm lẫn; iii) 
nhiều loại gỗ sắp xếp chưa hợp lý; iv) số lượng loại gỗ còn quá ít so với tài nguyên gỗ ở nước ta.
-  Trong hai dự thảo phân nhóm gỗ của Nguyễn Đình Hưngthì dự thảo năm 1977 cócơ sở khoa 
học và tiêu chuẩn phân nhóm rấtrõ ràng, có khả năng hài hòa với khu vực và quốc tế, đặc biệt đãkế 
thừa và giải quyết được những tồn tại của Bảng 8 nhóm gỗ. Tuy nhiên cần phải quy định rõ hơn một số 
chỉ tiêu. 
3.3. Cơ sở khoa học
3.3.1. Tên gỗ
Tên gỗ được coi là một thông tin quan trọng trong bất kỳ một tài liệu phân nhóm gỗnào. Tên khoa học được 
lấy trong hệ thống phân loại thực vật học và được dùng làm tiêu chuẩn. Tên Việt Nam là tên phổ thông đã được 
công bố trong các tài liệu khoa học, sách đã được xuấtbảnhoặc sử dụng trên thị trường và tương ứng với tên 
khoa học đã được giám định (Nguyễn Đình Hưng, 1996). 
3.3.2. Đặc tính kỹ thuật của gỗ
a) Cấu tạo gỗ
Trong hầu hết các bảng phân nhóm gỗ từ trước đến nay đều sử dụng một số đặc điểm cấu tạo để làm một 
trong những tiêu chuẩn tham khảo để xử lý xếp nhóm gỗ, đó là: Màu sắc, mùi vị, thớ gỗ và mặt gỗ.  
-  Màu gỗ: Màulà một trong những tính chất làm tăng vẻ đẹp, từ đó tăng giá trị sử dụng của gỗ. Ở nhiều loại 
gỗ, màu sắc không đồng đều lại tạo nên vân rất đẹp: Trắc, Cẩm lai, Gụ,... rất được ưa chuộng để đóng đồ mộc 
mỹ nghệ cao cấp.
- Hương thơm: Hương thơmlà một đặc điểm đặc trưng cho một số loại gỗ và được ưa chuộng hoặc cần lưu 
ý  cho một số côngdụng nhất định. Một số loại gỗ có hương thơm đặc biệt, được ưa chuộng để đóng đồ mộc 
cao cấp: Pơ mu, Hoàng đàn, Long não, Re hương, Vù hương, Đinh hương, Giổi, Sưa,...
-  Thớ gỗ:  Chiều hướng gỗ thẳnghay xoắn(chéo)là một chỉ tiêu quan trọng, ảnh hưởng nhất định đến quá 
trình gia công, chế biến, độ bền cơ họcvà do đó có thể làm giảm hoặc tăng giá trị sử dụng gỗ.
- Mặt gỗ: Mặt gỗ thô hay mịn là một trong những tính chất dùng để chọn lọc gỗ cho những sản phẩm đồ mỹ 
nghệ, mộc cao cấp hoặc trong những lĩnh vực sử dụng trang trí khác.  
b) Tính chất vật lý
-Khối lượng thể tích:  KLTTlà một chỉ số được quan tâm nhất vì nó có liên quan  đến hầu hết các tính chất 
của gỗ. 
Đối vớitất cả các loạigỗ sử dụng ở  nước ta thống nhấtáp dụngtiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế  đã được 
Nguyễn Đình Hưng (1977) sử dụng như ở bảng 16.
Bảng 1. Tiêu chuẩn phân hạng gỗ theo KLTT (Nguyễn Đình Hưng, 1977)


- Hệ số co rút thể tích
Hệ số co rút thể tích làm một  chỉ tiêu đánh giá về sự co rút của một loài gỗ một cách tổng quan nhất,  liên 
quan mật thiết đến giá trị sử dụng gỗ, những khuyết điểm trong quá trình sử dụng, hong sấynhư nứt, mo móp, 
cong vênh, đến việc tính toán độ dư gia công. 
Đối với gỗ sử dụng ở Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn đã được  Nguyễn Đình Hưng (1995) sử dụng. Hệ số co 
rút dưới 0,35 được quy định là "Nhỏ", từ 0,35 đến 0,55 là "Trung bình" và trên 0,55 là "Lớn".
c) Độ bềncơ học
-  Độbềnnén dọc:  Khả năng chịunén dọc thớ của gỗ là một chỉ tiêu cơ học rất quan trọng để đánh giá độ 
bền cơ học của gỗ. 
-  Độ bềnuốn tĩnh:  Giới hạn bền khi uốn tĩnh của gỗ là một ứng lực phức tạp, là chỉ tiêu quan trọng thứ hai 
sau độbền nén dọc. 
Trong phân nhóm, lấy độ bền nén dọc và độ bền uốn tĩnh kết hợp làm tiêu chuẩn phân cấp cường độvà lấy 
cấp cường độ là tiêu chí chủ đạo sau khối lượng thể tích.

Bảng 2. Tiêu chuẩn phân hạng gỗ theo độ bềncơ họccho gỗ Việt Nam



-Độ bền uốn va đập: Đặc tính này được dùng làm chỉ tiêu đánh giá độ dòn hay độ dẻo dai của gỗ, đánh giá như 
sau:
Bảng 3. Đánh giá theo độ bền uốn va đập


d) Khả năng gia công
Khả  năng  gia  công  được  nhận  xét  đánh  giá  dựa  trên  những  công  cụ  và  thiết  bị  cắt  gọt,  gia  công  thông 
thường trong thực tế sản xuất và theomức độ dễ hay khó hoặc rất khó.
e) Khả năng phơi,sấy: 
Căn cứ vào thời gian hong phơi tự nhiên, chế độ sấyđã  được nghiên cứu, những khuyết điểm xuất hiện 
trong quá trình hong phơi tự nhiên hay sấy của gỗ để xác định mức độ dễ hay khóhoặc rất khó.
g) Độ bền tự nhiên
Độ bền tự nhiên căn cứ vào thời gian của năm tháng là tiêu chuẩn đểxác định mức độ bền lâu của gỗ đối 
với những sinh vật hại gỗ (Nguyễn Đình Hưng, 1996). 
Tiêu chuẩn phân hạng theo độ bền tự nhiên được áp dụng theo Nguyễn Đình Hưng (1995) như sau:Rất tốt : 
trên 10 năm; tốt: trên 5 năm; trung bình: trên 3 năm và kém: dưới 3 năm.
h)Khả năng bảo quản
Khảnăngthấm thuốc bảo quản của mỗi loại gỗ khác nhau đều khác nhau. Hầu hết gỗ dác đều dễ thấm 
thuốc bảo quản, gỗ lõi đều khó đến rất khó. 
Khả năng bảo quản đượcxác định dựa v ào mức độ và khả năng thấm thuốc bảo quản(I. Soerianegara và 
R.H.M.J. Lemmens, 1994) dễ hay khóhoặc rất khó.
i) Khuyết tật tự nhiên và kích thước cây gỗ
Khuyết tật tự nhiên bao gồm khuyết tật về hình dạng bên ngoài của thân cây, vết cành mắt,... mà một loại gỗ 
thường có, có ảnh hưởng lớn đến phẩm chất gỗ trước hết là  gỗ tròn và gỗ xẻ, giảm tỷ lệ sửdụng và giá trị 
thương phẩm.Kích thước cây gỗ ảnh hưởng đến tỷ lệ sử dụng và giá trị thương phẩm.
j) Khả năng sử dụng
Căn cứ vào những chỉ tiêukỹ thuật đã có hoặc mang tính chất kinh nghiệm truyền thống lâu đời của nhân 
dân trong nước và nước ngoài. Những tiêu chuẩn này  cũng đã  phải dựa vào các đặc tính cấu tạo, khuyết tật, 
tính chất vật lý và cơ học của gỗ. Căn cứ vào những sản phẩm cuối cùng của từng loại gỗ để xem xét giá trị và 
xếp hạng nó (Nguyễn Đình Hưng, 1996).
Lấy khối lượng thể tích và cấp cường độ gỗ làm tiêu chí chủ đạo, kết hợp với các chỉ tiêu khác, đề tài đã đưa 
ra 5 nhóm gỗ và 1 nhóm đặc biệt như sau: 
* Gỗ nhóm đặc biệt
Các loại gỗ quý, màu đẹp, vân nhiều và đẹp, hương thơm đặc biệt.
Được  ưa chuộng hoặc có khả năng sử dụng cho trong công nghệ đồ mộc cao cấp đắt tiền, đồ mỹ 
nghệ, hàng mộc chạm khảm,hoặc những sản phẩm gỗkháccó giá trị rất cao (gỗ lạng dùng để trang 
sức bề mặt, ván sàn đặc biệt,...).Gỗ có giá trị kinh tế cao nhất hoặc có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa 
học và nghệ thuật.
* Gỗ nhóm I
Gỗ rất nặng, cấp cường độ A.  
Độ bềntự nhiên rất tốt.
Có khả năng sử dụng vào các công trình xây dựng lâudài, làm khung tầu thuyền, cầu, những bộ 
phận cần chịu lực lớn.
Nếu gỗ có KLTT nhỏ hơn, thì phảiđáp ứng được yêu cầu về đặc tính tự nhiên khác của nhóm, có giá 
trị kinh tế cao, hoặc có đủ đặc tính cần thiết thoả mãn tốt cho công nghiệp đóng tàu thuyền đi biển.
* Gỗ nhóm II
Gỗ nặng, cấp cường độ B, độ bền uốn va đập cao.
Độ bền tự nhiên tốt.
Khả năng gia công, phơi,sấy và bảo quản dễ.
Thích hợp với công nghiệp đóng tầu thuyền, sử dụng trong các công trình xây dựng có khả năng chịu 
lực và bền chắc.
Nếu gỗ  nhẹhơntiêu chuẩn trên thì phải thích hợp nhất cho đóng vỏ tàu thuyền, đồ mộc hạng tốt, 
hoặc thoả mãn cho yêu cầu đặc biệt của các ngành công nghiệp khác như làm thùng đựng dung dịch 
lỏng, tiện, gọt, chạm trổ,...
Nếu gỗ nặnghơntiêu chuẩn trên thì là những loại gỗ không thoả mãn được yêu cầu của nhóm trên 
trước hết vì tính chất kỹ thuật khác và giá trị kinh tế của gỗ.
* Gỗ nhóm III
Gỗ nặng trung bình, cấp cường độ C. Độ bền uốnva đập trung bình. 
Độ bền tự nhiêntrung bình.
Hệ số co rút nhỏ đến trung bình.
Khả năng gia công, hong sấy và bảo quản dễ.
Thích hợp cho công trình xây dựng không đòi hỏi chất lượng cao. Thích hợp với công nghiệp bóc và 
lạng, đồ mộc thông dụng.
Nếu gỗ nhẹhơn tiêu chuẩn trên thì phải thoả mãn một số yêu cầu sử dụng tương tự trong nhóm gỗ 
này.
Nếu gỗ nặnghơn tiêu chuẩn trên thì là những loại gỗ không thoả mãn được yêu cầu của nhóm trên 
trước hết vì các tính chất kỹ thuật, độ bền tự nhiên hoặcđường kính tối đa của loài cây gỗ không lớn (gỗ 
nhỡ), hoặc gỗ không phổ biến và giá trị kinh tế không cao.
* Gỗ nhóm IV
Gỗ nhẹ, cấp cường độ D. Độ bền uốn va đập từ trung bìnhđến thấp; 
Độ bền tự nhiênkém.
Hệ số co rút nhỏ đến trung bình.
Khả năng gia côngdễ, phơisấy và bảo quản không dễ.
Thích hợp cho công trình xây dựng không kiên cố. Thích hợp với những yêu cầu làm ván khuôn; làm 
tà vẹt, gỗ chống lò nhưng phải xử lý bảo quản. Một số loại gỗ dùng làm văn phòng phẩm hoặc ván vỏ 
của thuyền loại nhỏ đi sông.
Nếu gỗ  nhẹhơntiêu chuẩn trên thì phải thích hợp đặc biệt với yêu cầu công nghiệp bóc, gỗ diêm, 
gỗ văn phòng phẩm hoặc thỏa mãn cho công nghiệp giấy sợi,...
Nếu gỗ nặnghơn tiêu chuẩn trên thì là những loại gỗ không thoả mãn được yêu cầu của các nhóm 
trên trước hết vìtính chất kỹ thuật của gỗ, độ bền tự nhiên kém hoặclà cây gỗ nhỡ,giá trị kinh tế không 
cao.
* Nhóm V
Gỗ rất nhẹ, cấp cường độ E. Độ bền uốn va đập rất thấp.
Độ bền tự nhiên rất kém. 
Thích hợp cho công trình xây dựng không yêu cầu chịu lực, làm bao bì hoặc ván khuôn.
Nếu gỗ nặng hơn tiêu chuẩn của nhóm thì là gỗ của những loại cây gỗ nhỏ, giá trị kinhtế thấp, hoặc 
rất khó gia công, khó phơi, sấy, khóbảo quản, loài cây gỗ có nhiều khuyết tật.
IV. KẾT LUẬN
Đề tàiđã đề xuất được những cơ sở sở khoa học và tiêu chuẩn để phân nhóm gỗ Việt Nam và đã đưa ra 
được5 nhóm gỗ và 1 nhóm đặc biệt. Đây chính là cơ sở quan trọng để điều chỉnh bảng 8nhóm hiện hành 
để giải quyết triệt để những tồn tại từ trước đến nay đồng thời để hài hòa với quốc tế, phù hợp với giai đoạn 
mới phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Đình Hưng, 1977. Phân loại gỗ Việt Nam, Tập san của Bộ Lâm nghiệp, số 11, tr. 13-24.
2. Nguyễn Đình Hưng, 1990. Nghiên cứu những tính chất cơ bản và xác định hướng sử dụng nguồn tài 
nguyên gỗ rừng Việt Nam. Tổng kết đề tài cấp Nhà nước 04.01.06.01. Bộ Lâm nghiệp.
3.  Nguyễn  Đình  Hưng,  1996.  Phân loại  gỗ  Việt  Nam  trong  Kết  quả  nghiên  cứu  khoa  học  công  nghệ lâm 
nghiệp 1991-1995, Bộ NN & PTNT, Hà Nội, tr. 111-115.
4. Lê Văn Chung, 1963. Tiêu chuẩn hoá và phân loại gỗ thương phẩm.NXB Nông thôn, Hà Nội.
5. Phạm Đình Sơn, 1991. Về mặt thương mại tại thị trường Xingapo –Gỗ nhiệt đới Đông Nam Á được phân 
loại như thế nào?, Tập san LS, số 3-1991. 
6. Hội đồng Chính phủ, 1960. Nghị định số 10-CP về quy định chế độ tiết kiệm gỗ do Hội đồng Chính phủ 
ban hành (http://www.thuvienphapluat.com/
default.aspx?CT=VC&LID=5156007)
7. Bộ Lâm nghiệp, 1977. Quyết định ban hành bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong 
cả nước (Quyết định số 2198-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ Lâm nghiệp).
8. C. Schreiber, 1965. Tropenhoelzer, VEB Fachbuchverlag Leipzig.
9. L.J. Harzmann, 1988. Kurze Grundriss der allgemeinen Tropenkunde. S Hirtel Verlag, Leipzig.
10. I. Soerianegara and R.H.M.J. Lemmens, 1994. Plant resources of South-East Asia, No 5(1) Timber trees: 
Major commercial timbers. Bogor Indonesia.
11. R.H.M.J. Lemmens, I. Soerianegara and W.C. Wong,1995.

Bình luận


le van son - levanson135@gmail.com

tim bang phan nhom go

Trả lời

Bình luận